Ung thư phổi ở giai đoạn sớm không có triệu chứng. Ảnh: Johnson & Johnson |
Ung thư phổi là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, ung thư phổi đứng thứ 2 về tỷ lệ tử vong do ung thư (sau ung thư gan).
Thông thường, ung thư phổi ở giai đoạn sớm không có triệu chứng. Khi ung thư ở giai đoạn tiến triển, bệnh nhân có thể có những triệu chứng như:
- Ho (có thể ho khan, ho đờm hay ho máu)
- Đau tức ngực, khó thở, khàn tiếng
- Sút cân, đau mỏi cơ thể
- Phù mặt, cổ và ngực khi tĩnh mạch lớn trong lồng ngực bị chèn ép
Nếu khối u ở vị trí đỉnh phổi, bệnh nhân có thể có triệu chứng đau ở tay, vai và cổ. Ở giai đoạn muộn khi có di căn xương, gan, não... người bệnh có thể có triệu chứng đau nhức xương, đau cột sống (di căn xương), đau tức bụng (di căn gan), đau đầu, lẫn lộn, sụp mí mắt, nhìn mờ, yếu tay chân (di căn não).
Tất cả triệu chứng trên có thể từ các nguyên nhân bệnh lý khác không phải ung thư phổi. Nhưng khi có các triệu chứng kể trên, bệnh nhân cần đi khám tại các cơ sở chuyên khoa. Sau khi được chẩn đoán xác định mắc ung thư phổi, quyết định chọn lựa phương pháp điều trị phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn bệnh, thể ung thư, tuổi và thể trạng.
Phẫu thuật
Thường áp dụng cho bệnh nhân giai đoạn sớm, khối u còn khu trú. Phẫu thuật có thể mổ mở hoặc nội soi, cắt một phần hay một thùy phổi. Thậm chí, một số trường hợp phải cắt hai thùy hay cả phổi một bên, cùng lúc, hạch rốn phổi và hạch trung thất cũng được lấy lấy bỏ, nạo vét.
Ung thư phổi là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư trên toàn thế giới. |
Xạ trị
Đây là cách dùng tia bức xạ ion hóa có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Các tia sử dụng có thể là tia photon, electron, neutron hay proton.
Hoá trị
Các thuốc hoá trị thường dung trong ung thử phổi là Platinum (Cisplatin, Carboplatin ), Paclitaxel, Docetaxel, Etoposide, Navelbine, Gemcitabine, Topotecan, Irinotecan, Vinblastin.
Các tác dụng phụ thường gặp nhất là nôn, buồn nôn, ăn không ngon, táo bón, tiêu chảy, rụng tóc, tê bì tay chân, đau nhức cơ xương, giảm 3 dòng tế bào máu, giảm bạch cầu dễ bị sốt, nhiễm trùng, giảm hồng cầu gây mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, nhịp tim nhanh, giảm tiểu cầu dễ gây chảy máu. Các bác sĩ chuyên khoa ung thư sẽ cho thuốc hỗ trợ để kiểm soát tác dụng phụ này.
Điều trị đích
Đây là các thuốc chỉ tác động đến tế bào ung thư, không diệt tế bào lành. Do vậy, chúng ít có tác dụng phụ hơn hóa trị thông thường.
Đột biến đích EGFR thường gặp nhất trong ung thư phổi. Các thuốc đích tác động vào đích là chất tyrosine kinase của yếu tố EGFR, tyrosine kinase thúc đẩy sự tăng trưởng của tế bào ung thư phổi vốn phát xuất từ biểu mô. Qua sự ức chế hoạt động của tyrosine kinase lên sự phát triển biểu mô, các thuốc kháng EGFR có thể ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.
Tác dụng phụ hay gặp nhất của hai thuốc này là tiêu chảy và các phản ứng về da như ban dạng mụn trứng cá, bong da hay đóng vảy. Những triệu chứng này thường nhẹ nhưng cũng có thể rất nặng phải giảm liều hoặc ngưng hẳn điều trị.
Điều trị miễn dịch
Điều trị miễn dịch là phương thức hỗ trợ hệ thống miễn dịch nhận ra các tế bào ung thư như kháng nguyên lạ, kích thích đáp ứng miễn dịch diệt tế bào u, ngăn chặn quá trình ức chế miễn dịch cho phép dung nạp sự tăng sinh khối u thông qua một chuỗi đáp ứng sinh học miễn dịch tế bào và dịch thể.
Nguyên nhân chính và có thể tránh được ung thư phổi là thuốc lá. Do vậy, cách tốt nhất và quan trọng nhất để phòng bệnh ung thư phổi là không hút thuốc. Nếu đang hút thuốc lá, người dân nên ngừng càng sớm càng tốt.
Hiểu đúng về bệnh Alzheimer
Bệnh Alzheimer không chỉ gây nên chứng sa sút trí tuệ, mất trí nhớ. Khi bước vào giai đoạn nặng hơn, trong tâm trí của người bệnh sẽ xuất hiện ảo giác, gây nên chứng hoang tưởng. Những lời khuyên của tác giả - bác sĩ Lee Kang Joon trong cuốn sách Cẩm nang chăm sóc người bị đãng trí sẽ giúp bạn đọc chăm sóc người thân bị chứng đãng trí một cách hiệu quả hơn.